Kinh nghiệm xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình công nghệ của một số nước

Sau khi lộ trình công nghệ (TRM) được xây dựng và triển khai ứng dụng một cách hiệu quả của trong các doanh nghiệp, từ đầu những năm 2000 đến nay, các chính phủ, bộ ngành và hiệp hội đã bắt đầu sử dụng TRM trong việc hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp và thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ. Với sự quan tâm ngày càng tăng trong việc phát triển các công nghệ mới và mới nổi, lộ trình công nghệ đã được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu và quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp. Các chính phủ ngày càng sử dụng phương pháp tiếp cận TRM trong công nghệ và đã triển khai xây dựng hơn 2000 lộ trình công nghệ từ quy mô ngành trở lên được xây dựng trong các lĩnh vực khác nhau trong khoảng 15 năm vừa qua

Lộ trình công nghệ ở cấp độ ngành, lĩnh vực là một phương pháp dùng để tạo dựng sự đồng thuận khi nhìn nhận về những nhu cầu tương lai và những công nghệ cần thiết phải có để đáp ứng những nhu cầu đó, là một loại cơ chế cho phép các chuyên gia dự báo sự phát triển của công nghệ trong những lĩnh vực cụ thể. Thêm vào đó, nó còn là một khuôn khổ mà các ngành công nghiệp thường sử dụng để làm công tác kế hoạch hóa và phối hợp các chiến lược phát triển. Lộ trình công nghệ sẽ xác định tầm nhìn chiến lược và mục tiêu phải đến cho khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm, tương quan cạnh tranh với các nước liên quan đồng thời xem xét năng lực và trình độ công nghệ của một nước trong tương quan với những mục tiêu và tầm nhìn đã xác định. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, lộ trình công nghệ sẽ trở nên cần thiết cho việc phát triển các ngành công nghiệp.

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, xây dựng lộ trình công nghệ có thể đảm bảo ngành công nghiệp có quyền tiếp cận các công nghệ quan trọng cần thiết để nắm bắt cơ hội từ sự phát triển thị trường lớn dự kiến sẽ diễn ra trong khoảng thời gian từ 5 đến 10 năm và có thể là 20 năm tùy theo năng lực và mục tiêu của mỗi nước. Bằng cách cung cấp các chiến lược để tiếp cận các công nghệ, một lộ trình công nghệ có thể giúp các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp xác định vị trí tốt hơn cho tương lai, đánh giá và thúc đẩy sự phát triển của các dự án hợp tác trong và giữa các ngành công nghiệp để thu hẹp khoảng cách công nghệ và/hoặc nắm bắt các cơ hội liên quan đến công nghệ.

Thái lan là một ví dụ điển hình của quá trình bắt kịp và tham gia sau vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là trong ngành ô tô.  Giai đoạn 2007-2011, Thái lan đã xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp ô tô đồng bộ bao gồm 5 chiến lược cụ thể và 12 kế hoạch triển khai. Trong đó phát triển và xây dựng lộ trình công nghệ là một kế hoạch triển khai nằm trong chiến lược thúc đẩy kỹ thuật. Lộ trình công nghệ ô tô của Thái lan đã chỉ ra những công nghệ chủ chốt cần tập trung nghiên cứu, làm chủ và phát triển dựa trên việc xem xét các yếu tố cạnh tranh trên thị trường

Kết quả là trong giai đoạn này, sản lượng xe sản xuất của Thái lan đã tăng gần gấp 2 lần, đạt trên 2.45 triệu xe năm 2012, trong đó tỷ lệ xuất khẩu đạt khoảng 40%. Đặc biệt là tỷ lệ nội địa hóa đối với xe con đạt 80% và xe bán tải, xe tải đạt 90% từ mức 50% trước đây. Thành công của việc nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong giai đoạn này có đóng góp lớn từ định hướng R&D với mục tiêu nội địa hóa cụ thể trong lộ trình công nghệ. Chính vì vậy, Thái lan đã tiếp tục xây dựng lộ trình công nghệ và đây được xác định là một trong ba trụ cột chính để phát triển ngành ô tô Thái Lan giai đoạn 2012-2020.

Trong chiến lược 2012-2020 của Thái Lan, lộ trinh công nghệ đã được xây dựng chi tiết hơn với các mục tiêu cụ thể được xác định trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn như việc giảm trọng lượng xe, phát triển hệ thống điện tử tự động cũng như các kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra.


Các mục khác